Trang chủ Du học Hàn Quốc Giáo dục Hàn Quốc và những con số ấn tượng

Giáo dục Hàn Quốc và những con số ấn tượng

Lượt xem: 124 Ngày đăng: 28/04/2016

Hiện nay, Hàn Quốc đang là quốc gia có nền giáo dục thuộc loại tốt nhất thế giới. Đã bao giờ bạn tò mò Hàn Quốc đã làm những gì sau những năm qua để có được thành quả như hôm nay không?

Năm 1945, sau khi giành được độc lập, Hàn Quốc chỉ có 7.819 sinh viên. Nhưng đến năm 1998, tỉ lệ ghi danh đại học đã 98%, cao nhất trong các nước thuộc khối OECD (Tổ chức hợp tác kinh tế Châu Âu).

Theo số liệu thống kê chính thức, năm 2010, Hàn Quốc có 3,2 triệu sinh viên đại học và 316 ngàn sinh viên sau đại học.  Các đại học Hàn Quốc đã bắt đầu tạo được uy danh trên trường quốc tế.

Đại học Quốc gia Seoul được xem là một trong những đại học hàng đầu của Á Châu (đứng hạng 13) và trên thế giới (hạng 124, theo bảng xếp hạng của THES).  Nhiều đại học khác như Chungnam, Chonbuk, Chonnam, Pusan, Sogang, Inha, v.v... cũng đã trở thành những cái tên đáng kính nể trong vùng và trên thế giới.  Các đại học Hàn Quốc, công cũng như tư, đã thu hút sinh viên ngoại quốc, kể cả Việt Nam, đến theo học.

Phát triển đại học dẫn đến phát triển khoa học và công nghệ.  Hiện nay số nhà nghiên cứu toàn thời gian (full-time) của Hàn Quốc là 236 ngàn người.  Con số này còn cao hơn Pháp (211 ngàn), Anh (175 ngàn), nhưng thấp hơn Đức (284 ngàn).

Hàn Quốc cũng đã có một số trung tâm nghiên cứu lớn và có uy tín cao.  Tiêu biểu là Viện nghiên cứu tiên tiến của Hàn Quốc (KAIST), một mô hình mà Nhật Bản đã mô phỏng để tạo nên viện JAIST, là một trung tâm nghiên cứu có tên tuổi trên thế giới.

Về số lượng ấn phẩm khoa học trên các tập san quốc tế, Hàn Quốc đã có một bước nhảy vọt chẳng kém gì Trung Quốc.  Năm 1990, tổng số bài báo khoa học từ Hàn Quốc trên các tập san khoa học quốc tế chỉ 1.382 bài (tức xấp xỉ con số của Việt Nam hiện nay). Vậy mà đến năm 2008, con số này đã là 26.690 bài, tức tăng 20 lần trong vòng chưa đầy 20 năm!

Những nghiên cứu mạnh của Hàn Quốc (qua số ấn phẩm khoa học) là y sinh học (chiếm 35% tổng số ấn phẩm khoa học), khoa học tự nhiên (37%) và kĩ thuật (26%).  Số bằng sáng chế đăng kí ở nước ngoài (chủ yếu là Mĩ, Châu Âu và Nhật) tăng từ 1.382 năm 2002 lên 3.158 vào năm 2005.  Số bằng sáng chế đăng kí trong nước tăng từ 45.298 năm 2002 lên 123.705 vào năm 2007.